Làm Chứng
Home Lịch Sử Hội Thánh Ban Chấp Hành Sinh Hoạt Hội Thánh Bài Giảng Lớp Học Kinh-thánh Sứ Điệp Phúc Âm
 

 

 

 


Đấng Chữa Bệnh (nghe)
Chị Rose Trương
Jacksonville, FL.
Chúa Nhật, ngày 25 tháng 3 năm 2007

Cho đến thời đại nầy, Chúa vẫn là Đấng làm phép lạ và là Đấng chữa bệnh.  Cảm tạ Chúa đă chữa lành chứng bệnh đau bao tử của tôi.  Sau khi cầu nguyện, tôi đă không c̣n dùng thuốc nữa ......

 


Đấng Chữa Bệnh
(nghe)
Ông Trần Chấn Hoanh
Jacksonville, FL.
Chúa Nhật, ngày 4 tháng 2 năm 2007

Cảm ơn Chúa đă nhậm lời cầu nguyện của chúng tôi và sự cầu thay của Ông Bà Mục Sư Quản Nhiệm và các con cái Chúa trong tối Thứ Tư, ngày 17 tháng Giêng năm 2007 vứa qua....
 

 


Thuật Lại Ơn Cha 
Chương Tŕnh Chính Lễ Tạ Ơn, November 23, 2006

Thi-Thiên 66:16-17  -  Hỡi hết thảy người kính sợ Đức Chúa Trời, hăy đến nghe, th́ tôi sẽ thuật lại điều Ngài đă làm cho linh hồn tôi.  Tôi lấy miệng tôi kêu cầu Ngài, và lưỡi tôi tôn cao Ngài.
 

 


Tôi bắt đầu tin Chúa năm 1992 tại Hội Thánh G̣-Vấp ở Việt-Nam.  Buổi đầu tiên khi đến Hội Thánh, trong cái không khí vô cùng ấm cúng giữa các tín đồ với nhau, tôi có cảm tưởng như chúng tôi đă gặp gở và quen biết nhau từ lâu.....Thế rồi tôi bắt đầu tiếp nhận tin Chúa ngay trong tuần lễ đầu tiên đó....... 


 

Hơn một năm qua, mọi nổ lực của Hùng thường gặp thất bại và đi từ chán nản nầy đến chán nản khác; cho đến một hôm Hùng đọc được quyển sách nầy.....

Trang sách của ngày thứ tám cho biết:  "Tôi được tạo dựng v́ sự vui thỏa của Đức Chúa Trời".   Cảm ơn Chúa đă cho Hùng có cơ hội đọc được quyển sách nầy, và từ đó Hùng lấy lại sức sống. ....

Tất cả những ǵ xảy ra trong đời sống ḿnh, những nan đề, những cám dỗ, v.v.,  là do Chúa rèn luyện để mỗi ngày ḿnh được trưởng thành hơn....  (nghe tiếp)

 

 

 

Trong một cơn bệnh tim đột xuất, Bà Châu được thuyên chuyển đến pḥng cấp cứu kịp thời kịp lúc để thông tim.  Sau khi xuất viện, để tỏ ḷng cảm tạ Chúa - Đấng nhơn lành hay làm phép lạ và chửa bệnh - bà đă tôn vinh Chúa 1 bài ca cảm tạ. 
 

 



Bà Châu Ngọc Hiệp (nghe)

Tôi xin tạ ơn Chúa về những ơn phước
Chúa đă ban cho Hội-thánh cũng như gia đ́nh tôi trong những ngày qua......
 

 



Bác Sĩ Trần Văn Hưng (nghe)

Những ǵ xảy ra cho chúng ta trong thời gian qua là một ơn phước cho Hội-thánh ......

 

 

Từng xuất thân là một ni-cô trong giới Phật tử, ngày nay đứng trước đại gia đ́nh Hội Thánh, tôi xin cảm ơn Đức Chúa Trời đă cứu gia đ́nh tôi và chọn chúng tôi làm con dân của Ngài.
 

 

Suốt 12 năm sống trên đất Mỹ, bây giờ ngồi đếm lại những ơn phước Chúa ban, thật nhiều không xiết kể.  Ngài đă tha thứ tội lỗi cho tôi, vùa giúp tôi trong mọi sự, nhưng tôi măi chăm lo về cuộc sống thế gian mà không hết ḷng với Ngài.  Tôi làm việc vất vả, kể cả ngày Chúa Nhật, mặc dù các số tiền kiếm được trong ngày Chúa Nhật đều được dâng lên cho Chúa.  Sau ngày mẹ tôi qua đời, ba tôi được bảo lảnh du lịch sang đây xum hiệp gia đ́nh, tôi càng thấy được ơn phước Chúa ban cho gia đ́nh chúng tôi. 

Bước sang năm mới, tôi quyết định đóng cửa, nghỉ làm ngày Chúa Nhật, cố gắng sống đẹp ḷng Đức Chúa Trời, hầu được tấn tới trong ân điển và thông biết Chúa.  Tôi xin hết ḷng ăn năn cùng Ngài, xin Chúa tha thứ cho tôi.  Amen.
 

 
         Một Ngày Ăn Năn Với Chúa
                      
Bà Mai Ngọc Huệ
                                      January, 2006


Tưởng rằng biết Chúa đủ rồi,
Không ngờ biết Chúa ngoài môi lưỡi ḿnh.
Tưởng rằng có Chúa Thánh Linh,
Không ngờ nghịch cảnh luôn ŕnh rập con.
Cha ơi!  Chúa Đấng hằng c̣n,
Con nay thức tỉnh ḷng son nguyện thề,
Cơi trần chẳng dám măi mê,
Hồn ĺa khỏi xác mang về được đâu!
Chúa kêu con sẳn ứng hầu,
Lắng nghe tiếng Chúa, cúi đầu xin vâng.
Từ nay sốt sắng ân cần,
Thương người như thể thương thân của ḿnh.
Cậy trông ơn Đức Thánh Linh,
Cho con giữ măi ân t́nh bên Cha.
Một mai bóng xế chiều tà,
Bên Cha, hứa nguyện:  vẫn là con ngoan!

                       Amen.
 

 

 
  • Chúa Cứu
    Ông Đỗ Tấn Minh, Tallahassee, FL.

Tôi sinh trưởng tại Sông Cầu, một quận lỵ phía Bắc của Tỉnh Phú Yên, trung phần Việt Nam; trong một gia đ́nh không theo Chúa, cũng không thờ Phật.  Ông nội tôi và ba tôi ảnh hưỡng nặng nề bởi Khổng giáo, lấy nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, kinh làm nền tảng cho việc xử

thế và tu nhân tích đức.  Thêm vào đó, gia đ́nh tôi cũng giữ tục lệ thờ cúng ông bà, tổ tiên, như phần đông các gia đ́nh Việt Nam khác.  Tôi là con trưởng nam của ba tôi và v́ bác tôi không lập gia đ́nh, cho nên tôi nghiễm nhiên là cháu đích tôn , sẽ thừa kế việc cúng kiến tổ tiên sau nầy.  Vợ tôi chào đời và trưởng thàng tại Qui Nhơn, thành phố cách quê tôi khoảng 60 km về hướng bắc.  Ḍng họ phía bà nội của vợ tôi ngày xưa ở Bắc Việt là tín đồ Công Giáo La Mă.  Tuy nhiên, ba vợ tôi không đi nhà thờ và cũng chẳng hề nói ǵ với con cái về đạo Chúa.  Ông không chống đối một tôn giáo nào, nên tín ngưỡng của gia đ́nh theo khuynh hướng chung chung kiểu ḥa đồng tôn giáo:  "đạo nào cũng tốt" và "ở hiền gặp lành".

Trước năm 1975, tôi là quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.  Vào năm 1972, tôi được thuyên chuyển đến phục vụ tại một đơn vị Hải Quân ở Qui Nhơn và gặp gỡ vợ tôi lúc đó là một nữ y tá làm việc cho bệnh viện của thành phố nầy; chúng tôi thành hôn vào đầu năm 1973.

Trong thời gian nầy, tôi có người bạn thân cùng đơn vị là một tín đồ Tin Lành.  Anh ấy thường làm chứng về Chúa Giê-su cho tôi và cũng mời tôi đi nhà thờ vài lần.  Lúc đó th́ tôi có cảm t́nh với đạo Tin Lành lắm.  Người bạn nầy cũng giới thiệu và khuyến khích tôi học mấy khóa Kinh Thánh Hàm Thụ do Nha Tuyên Úy Tin Lành Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa hợp tác với trường Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang tổ chức.  Phần v́ ṭ ṃ muốn t́m hiểu về một tôn giáo lạ, phần v́ muốn làm vui ḷng bạn, chúng tôi ghi danh học hai khóa căn bản về Kinh Thánh và Tín Lư Cơ Đốc.  Sau khi hoàn tất, tôi được cấp hai chứng chỉ mà lúc đó tôi rất thích và hănh diện v́ chứng chỉ in thật đẹp.  (Tuởng cũng nên nói thêm là bởi hai chứng chỉ mà sau khi chúng tôi vượt biển t́m tự do, chính quyền địa phương đă tố khổ, hành hạ ba tôi suốt hai tháng liền v́ họ tưởng rằng tôi đă làm việc cho CIA, viện cớ là tôi có giấy tờ của đạo Tin Lành, mà đạo Tin Lành là đạo của người Mỹ.)

Qua các bài học Kinh Thánh Hàm Thụ nầy tôi đă hiểu được Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, chủ tể muôn loài vạn vật.  Ngài thương yêu nhân loại đang bị hư mất trong xiềng xích của tội lỗi, đến nổi đă ban cho Con Một của Ngài là Chúa Giê-su xuống thế gian làm người, hy sinh chịu chết trên thập tự giá để chuộc tôi cho nhân loại.  Hể ai tin nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa cho đời sống ḿnh th́ linh hồn sẽ không bị chết mất trong hỏa ngục đời đời, nhưng sẽ dược sống vĩnh hằng với Ngài trên Thiên Quốc.  Tôi đă ngu dại xếp bỏ những điều về Phúc Âm đă học được qua một bên sau khi tự lư luận rằng:  "Đời lính tráng luôn luôn bận bịu với trực giác và công tác, có chút th́ giờ rănh rang th́ phải dành trọn cho hạnh phúc lứa đôi.  Thôi, chuyện tin theo Chúa để sau nầy sẽ tính."  Tôi không c̣n bận tâm đến Tin Lành nữa cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày đánh dấu cuộc đời bi thảm cho vợ chồng tôi cũng như cho nhiều gia đ́nh quân nhân, công chức Việt Nam Cộng Ḥa khác.  Đức Chúa Trời đă dùng biến cố nầy để đánh thức tôi và bày tỏ t́nh yêu thương cùng quyền năng của Ngài trên đời sống của vợ chồng tôi để chúng tôi ăn năn mà tin theo Ngài.

Ngày 30 tháng 4, 1975, Sài-G̣n bị đổi chủ và cuộc chiến mấy mươi năm cốt nhục tương tàn chấm dứt.  Chúng tôi không mấy nôn nao trước ngưỡng cửa ḥa b́nh vừa hé mở; mà ngược lại, ḷng chúng tôi ngập tràn nổi lo bàng hoàng, chua xót, và nhất là lo âu cho số phận của ḿnh.

Giả từ Sài-G̣n, chúng tôi d́u dắt nhau về quê cũ và nương náu ở nhà ba tôi một thời gian chờ vợ tôi sinh đứa con đầu ḷng.  Như mọi quân nhân, công chức của chế độ cũ khác, tôi phải tŕnh diện với chính quyền địa phương để đi học tập cải tạo tại một vùng núi cách nhà mấy mươi cây số.  Ban ngày phải lao động (vinh quang) cực nhọc, ban đêm ngồi xếp bằng dưới đất nghe cán bộ quản giáo huyênh hoang về chiến thắng thần thánh của quân đội nhân dân và sự khoan hồng, độ lượng của cách mạng đối với tay sai "Mỹ Ngụy" như chúng tôi.  Tôi thấy thấm thía với tủi nhục của kẻ chiến bại và ê-chề trước viễn ảnh đen tối của đời ḿnh.

Sau khi tôi được trả tự do trở về nguyên quán để chính quyền địa phương "quản lư" v́ đă "lao động và học tập tốt", vợ tôi một ḿnh đi Qui Nhơn để chuẩn bị cho việc sinh nở.  Chúng tôi nghĩ rằng bệnh viện lớn ở Qui Nhơn (nơi vợ tôi làm việc trước kia) sẽ có nhiều phương tiện và thuốc men cho việc hộ sinh hơn là bệnh xá nhỏ ở quê tôi.  Nhưng chúng tôi đă lầm: các bác sĩ, y tá ngày trước không c̣n lại mấy ai.  Một số di tản ra nước ngoài và một số th́ bị sa thải.  Các thiết bị y khoa và thuốc men cũng không c̣n ǵ.  Đă vậy, vợ tôi lại sinh khó, phải chịu đau đớn, ngất đi tỉnh lại trong năm ngày liền, đứa con gái "cứng đầu" mới chịu chào đời.  Sinh xong được một tuần th́ vợ tôi đột nhiên bị đau nhức phía dưới lưng bên trái, không đi đứng được nữa nên phải đưa vào bệnh viện trở lại.  Tôi được "phép đặc biệt" rời quê đi Qui Nhơn để nuôi vợ bệnh và chăm sóc con nhỏ.  Dù được điều trị tại bệnh viện, nhưng bệnh t́nh của vợ tôi càng ngày càng trầm trọng.  Ngoài sự bị hành hạ bởi những cơn đau nhức tột cùng mỗi lần cử động, nhà tôi chỉ nằm nghiêng được một nửa người bên phải và không thể ngồi dậy được.  Mọi nhu cầu cá nhân như ăn uống và vệ sinh đều phải hoàn toàn tùy thuộc vào sự giúp đỡ của người khác.  Các bác sĩ từ miền Bắc vào cũng như các bác sĩ cách mạng vừa từ chiến khu ra không biết phải trị liệu bằng cách nào v́ họ chẳng rơ vợ tôi bị bệnh ǵ.  Sau đó, họ phải nhờ một bác sĩ thời trước (c̣n kẹt lại) chẩn bệnh giúp.  Vị bác sĩ nầy cho tôi biết là vợ tôi bị "viêm thần kinh tọa trái" v́ sinh khó và phải ráng sức chịu đau đớn quá lâu (năm ngày).  Với t́nh trạng thiếu thuốc men như hiện nay, bệnh trạng của vợ tôi rất nguy hiểm; nếu may mắn c̣n sống th́ cũng khó tránh khỏi bị tê liệt một nửa thân người và vĩnh viễn không c̣n đi đứng được nữa.  Nghe xong sự tiết lộ nầy, tôi cảm tưởng như cả bầu trời sụp đổ v́ tuyệt vọng; mắt tôi nḥa lệ, tôi thương vợ tôi, tôi tội nghiệp cho con tôi và cho chính bản thân ḿnh. 

Mỗi ngày tôi giao đứa con sơ sinh cho mấy đứa em vợ c̣n nhỏ xíu trông chừng để đến bệnh viện săn sóc vợ.  Tối đến, tôi phải gởi gắm vợ tôi cho người nhà của mấy bệnh viện cùng pḥng để về nhà săn sóc con.  Có một đêm ngồi ôm đứa con đỏ hỏn vào ḷng vụng về cho nó uống sữa, tôi đă khóc nhiều cho hoàn cảnh của ḿnh; cô đơn và đau khổ lắm nhưng tôi không biết tỏ bày cùng ai.  Tôi như một kẻ sắp chết đuối giữa biển khơi đang đua tay chới với t́m chiếc phao cứu mạng.  Chợt một tia hy vọng len nhanh vào trí óc vốn đă thẩn thờ bởi ưu phiền của ḿnh; tôi nhớ đến Chúa Giê-su, Đấng Cứu Chuộc mà tôi đă để vào một góc của lăng quên mấy năm qua.  Trong niềm ăn năn, tôi quỳ xuống dâng lên Ngài lời cầu xin chân thành: "Chúa ơi! Con cầu xin Ngài tha thứ cho con v́ con là kẻ có tội.  Chúa đă cho con có cơ hội học biết về Ngài, nhưng ḷng con đă quá cứng cỏi, quá kiêu ngạo.  Con đi theo con đường riêng của ḿnh mà không tin theo Ngài.  Chúa ơi!  Hiện tại đời con bi đát quá; tiền bạc, tài sản không c̣n, tương lai cũng mịt mờ tăm tối; vợ th́ đang đau trên giường bệnh không ngồi dậy được, lại thêm đứa con sơ sinh cũng đang cần sự nuôi nấng chu đáo của mẹ cha.  Con phải một ḿnh săn sóc cho cả hai người.  Con biết làm sao đây?  Chúa ơi!  Xin Ngài thương xót chúng con mà cho vợ con được lành bệnh và đi đứng b́nh thường trở lại."  Nhiều đêm tiếp theo tôi cứ tiếp tục dâng lên Chúa lời cầu xin tha thiết như vậy với ḷng tin cậy vào quyền năng của Ngài.

Riêng vợ tôi, mỗi đêm nằm một ḿnh nơi bệnh viện, đă nghe lời khuyên của tôi mà cầu nguyện cùng Chúa bằng những lời thật đơn sơ:  "Đức Chúa Trời ơi!  Chúa Giê-su ơi!Nếu như Ngài là Đấng có thật như lời chồng con nói, xin Ngài làm phép lạ cho con hết đau nhức, cho con đi đứng b́nh thường để con được về nuôi đứa con gái nhỏ của con, th́ con tin và theo Ngài từ nay."  Lạ lùng thay!  Những cơn đau nhức dần dần thuyên giảm và vợ tôi đă từ từ gượng ngồi dậy được.  Vài tuần sau đó, vợ tôi đă có thể đứng dậy và chập chững đi những bước đầu tiên sau gần hai tháng nằm một chổ tại bệnh viện không có thuốc men ǵ để điều trị.  Ha-lê-lu-gia!  Cảm tạ Đức Chúa Trời!  Vợ chồng tôi đă thực sự tin vào sự hiện hữu của Ngài qua phép lạ Ngài làm để cứu vợ tôi.

Rời bệnh viện Qui Nhơn, chúng tôi về lại Sông Cầu để bắt đầu cuôc sống tự lập.  Chúng tôi che một túp lều nhỏ trong vườn dừa của ba tôi bên bờ sông gần cửa biển để làm nơi trú ngụ.  (Tại nơi đây, Chúa đă an bài cho chúng tôi một cuộc vượt biển t́m tự do thành công sau nầy.)  Để mưu sinh, tôi đă làm những nghề trước kia tôi chưa từng học qua bao giờ, đó là "ngư phủ" và "nông phu" mà cả hai đều nằm trong dạng tài tử.  Ba tôi mua cho tôi một chiếc thuyền nang nhỏ và một tấm lưới củ.  Mỗi buổi sáng sớm, tôi chèo thuyền ra ven biển lưới cá.  Buổi chiều, tôi đạp xe đến triền núi gầnnhà ông nội tôi để vỡ đất trồng khoai.  C̣n phần vợ tôi v́ không c̣n được làm y tá nữa nên đă phải quay sang làm thợ may và bán cá.  V́ chúng tôi nghèo khổ và cơ cực nhất xóm, nên láng giềng khinh khi; người thân và bạn bè ai cũng ngoảnh mặt quay lưng.  Trong thân phận "chim lồng cá chậu", tôi có muốn yên thân cũng chẳng được v́ mỗi bước đi, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói đều bị theo dơi gắt gao.  Đă vậy, mỗi tháng ít nhất hai lần, tôi bị xung công đi làm công tác lao động ở những vùng sơn lam chướng khí để xẽ núi, phá rừng, đào mương, vét rạch..

Cảm tạ ơn Chúa! Về thể xác chúng tôi thật khốn khổ, nhưng về tinh thần, chúng tôi có sự an ủi và thêm sức từ nơi Ngài.  Với chiếc máy radio nhỏ bác tôi mới cho, mỗi đêm vợ chồng tôi đều nghe lén chương tŕnh phát thanh Tin Lành của đài Nguồn Sống từ Manila, Philippines.  (Mỗi lần nghe đài, chúng tôi phải để radio gần tai, xong trùm chăn kín lại để đề pḥng có người ŕnh bên ngoài nghe được.)  Lời Chúa qua các bài giảng luận đầy ơn đă xoa dịu nổi ưu phiền lo lắng trong đời sống nhọc nhằn, tủi nhục của chúng tôi.  Chúng tôi được an ủi nhiều khi nghe lời Chúa phán:  "Hỡi những kẻ mệt mơi và gánh nặng, hăy đến cùng ta; ta sẽ cho các ngướ được yên nghỉ.  Ta có ḷng nhu ḿ, khiêm nhường; nên hăy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; th́ linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.  V́ ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng (Mathiơ 11:28-30).

Đối đầu với thực tế khốn khổ của đời sống, chúng tôi chỉ biết nương cậy vào Chúa và luôn cầu nguyện xin Chúa phù hộ chúng tôi.  Một cách tự nhiên, vợ chồng tôi đă trở thành hai Cơ Đốc Nhân bí mật.  Chúng tôi phải che dấu niềm tin của ḿnh đối với gia đ́nh và xóm giềng.  Chúng tôi càng không dám đi nhà thờ v́ sợ rắc rối với chính quyền.  Lúc đó, tôi là thành phần nằm trong danh sách theo dơi, nên nhất cử nhất động đều bị nghi ngờ. 

Trong thời gian nầy, tôi bị chứng đau bao tử nặng.  Con gái của chúng tôi cũng ốm yếu và bệnh hoạn liên miên.  Riêng vợ tôi chỉ mới đi đứng b́nh thường ít lâu, giờ lại mang thêm chứng bướu cổ càng ngày càng lớn hơn.  Nhưng v́ tài chánh gia đ́nh quá eo hẹp, vợ tôi không thể vào Sài-G̣n trị bệnh được.  Tôi tŕnh dâng lên Chúa nổi lo sợ nầy và cầu xin Ngài thương xót gia đ́nh tôi.

Vào một đêm mùa hè năm 1976, sau khi nghe lén xong đài Nguồn Sống, tôi đổi qua làn sóng của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA).  Chúng tôi nghe được tin là có một số người dùng thuyền đánh cá vượt biển t́m tự do và được tàu lớn vớt ngoài biển đông.  Rồi nhiều đêm tiếp theo, chúng tôi đều nghe được tin tương tự như vậy.  Những tin vượt biển nầy đă nhen nhúm vào ḷng chúng tôi niềm hy vọng cho một chuyến ra đi.  Mỗi buổi chiều, chúng tôi thường ngồi bên bờ sông nh́n ra biển khơi rồi mơ mộng được đến một miền đất tư do Âu Mỹ nào đó.  Nhớ lại lời Chúa Giê-su phán:  "Hăy xin, sẽ được; hăy t́m, sẽ gặp; hăy gơ cửa, sẽ mở cho.  Bởi v́, hễ ai xin th́ được; ai t́m th́ gặp; ai gơ cửa th́ được mở (Mathiơ 7:7-8), vợ chồng tôi cùng nhau van nài với Ngài:  "Chúa ơi! Xin đoái thương đến hoàn cảnh của chúng con.  Xin Ngài cho chúng con một cơ hội để chúng con thoát khỏi nơi nầy.  Nếu Chúa đẹp ư cho chúng con c̣n sống và đến được bến bờ tự do, chúng con sẽ chính thức gia nhập một Hội Thánh Tin Lành và công khai làm tín đồ Ngài."

Thế rồi chính quyền ra lệnh cho những ai không có nghề nghiệp phải di dân về "vùng kinh tế mới".  Để có lư do cư ngụ gần bờ biển chờ cơ hội ra đi, tôi "đăng kư" làm ngư dân chính thức.  Chúng tôi gom góp số tiền dành dụm được nhờ vợ tôi may thuê và bán cá, cũng như bán món đồ trang sức cuối cùng của vợ tôi để mua một chiếc thuyền máy nhỏ và củ kỷ làm "phương tiện hành nghề".  Trong khi chờ đợi chính quyền chấp thuận làm ngư dân, chúng tôi lén lút mua dầu đem về chôn dấu dưới gầm giường chờ cơ hội dùng đến.  (Chúng tôi không định sẽ dùng chiếc thuyền nầy để vượt biển v́ nó quá nhỏ, nhưng định dùng nó làm con thoi đưa người ra thuyền lớn để đổi lấy cho 3 chổ chúng tôi mà thôi.)

Một đêm mưa giữa tháng 6 năm 1978, sau khi nghe xong đài Nguồn Sống (khoảng 8:30 pm) th́ một người bạn cùng chí hướng với tôi (nguyên là quân nhân Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa, xưa kia có đi du học ngành cơ khí trực thăng tại Hoa Kỳ) đến gơ cửa xin vào nhà tôi để bàn chuyện khẩn cấp.  Trong bóng tối, bạn tôi cho biết là anh phải tŕnh diện cải tạo trở lại vào ngày maiu, và tôi cũng có tên trong danh sách bị bắt lại vào một ngày gần đây.  Kỳ tập trung cải tạo nầy sẽ vô hạn định, không biết ngày nào mới được phóng thích.  Bạn tôi đề nghi chúng tôi cùng anh ra đi gấp trong đêm nay bằng chiếc thuyền nhỏ củ kỷ của tôi.  Nghe xong, tôi hồi hộp quay sang phía vợ tôi, hỏi:  "Em nghĩ sao?  Em có can đảm vượt biển với bọn anh không?"  Vợ tôi b́nh tỉnh đáp lại:  "Đi th́ đi, em và con sẽ theo anh đén bất cứ phương trời nào.  Dù rằng chuyến đi nầy đầy gian nguy và ḿnh có thể chết trên biển khơi...nhưng em không sợ đâu..."

Như là sự sấp xếp kỳ diệu của Chúa, chúng tôi nhanh chóng đồng ư sẽ khởi hành vào lúc 2 giờ sáng.  Trong bóng đêm, chúng tôi h́ hục moi mấy can dầu từ dưới gầm giường lên và chuyển ra thuyền.  Trước giờ khởi hành, vợ chồng tôi cùng quỳ xuống cầu nguyện xin Đức Chúa Trời bảo vệ chúng tôi và cho chúng tôi được đến bến bờ tự do v́ thuyền chúng tôi quá bé nhỏ và mong manh.

Chúng tôi, ba người lớn và một bé gái gần ba tuổi, rời bến sông vào lúc 2 giờ sáng ngày 14 tháng 6 năm 1978, bắt đầu cho một chuyến hải hành "chỉ mành treo chuông" bằng một con thuyền mà chúng tôi nghĩ là nhỏ nhất để vượt hơn 800 hải lư (hơn 1200 km) từ bờ biển Trung phần Việt Nam đến vịnh Manila, Philippines.  Con thuyền nầy nhọn hai đầu, dài 6 mét (20 feet), chính giữa rộng 1 mét 2 (4 feet).  Sau khi chất người và vật dụng, mạn thuyền chỉ cách mặt nước chừng 40 cm (1.3 feet).  Thuyền không có mui hay bất cứ ǵ để che mưa nắng. Nó chỉ được trang bị bằng một máy Yanma F.5 (5 mă lực), một chiếc bườm nhỏ và hai mái chèo. Ngoài 5 can dầu khoảng 100 lít và 1 can 20 lít nước ngọt, chúng tôi c̣n mang theo một ít bánh tráng, cơm khô, khoai lang khô làm lương thực cho người lớn và 3 lon sữa đặc cho đúa con nhỏ.  Chúng tôi cũng có 1 cái địa bàn nhỏ (dùng cho bộ binh) để định hướng trong đêm tối và 3 cây đèn pin để đánh tín hiệu cầu cứu S.O.S.

Suốt ba ngày đầu của chuyến hải hành, trời thật êm và biển thật lặng.  Nhưng vào ngày thứ tư th́ biển bắt đầu động mạnh, từng cơn giông băo hung hăn kéo đến chực nhận ch́m con thuyền nhỏ bé xuống ḷng biển sâu.  Chúng tôi ai cũng ướt như chuột lột.  Tôi và bạn tôi phải thay phiên nhau lái thuyền và tát nước.  Có nhiều tàu buôn lớn dừng lại quan sát chúng tôi; nhưng không lâu chùng lại lạnh lùng bỏ đi.  Tuyệt vọng trước sự hững hờ đến tàn nhẫn của con người, vợ chồng tôi chỉ biết giao số phận ḿnh cho Đức Chúa Trời là Đấng có thể giải cứu ḿnh ra khỏi trũng bóng chết mà thôi.  Đột nhiên máy thuyền ngưng chạy, tôi phải cố sức dùng máy chèo để cho con thuyền không xoay ngang ngọn sóng để khỏi bị lật ch́m.  Trước t́nh cảnh thập tử nhứt sinh nầy, chúng tôi nài xin Chúa:  "Chúa ơi!  Xin Ngài đừng bỏ rơi chúng con.  Xin Chúa cứu chúng con."  Cảm tạ ơn Chúa, cơn băo tan biến vào buổi chiều.  Đêm đó Ngài cho biển thật êm và trăng thật sáng để chúng tôi thả thuyền trôi lênh đênh rồi ngủ vùi v́ kiệt sức.

Sáng ngày thứ năm th́ gió thổi mạnh từ hướng tây nam.  Chúng tôi giương chiếc bườm nhỏ trước mũi thuyền để mượn sức gió xuôi về hướng đông.  Khi xem xét máy thuyền, bạn tôi tuyệt vọng v́ khám phá ra rằng một trong hai chiếc ḷ xo của máy bị găy và không cách ǵ sửa chửa được.  Tôi cầu nguyện xin Chúa giúp chúng tôi một sáng kiến để có thể sửa được máy thuyền.  Sau khi cầu nguyện xong, tôi cảm giác như có một sự nhắc nhở kỳ lạ làm tôi nhớ đến mấy cái ḷ xo trong nắp của 3 chiếc đèn pin.  Tôi gợi ư với bạn về việc dùng mấy ḷ xo nầy.  Bạn tôi gở ḷ xo của một nắp đèn pin, dùng đủa quấn lại và lấp vào máy.  Cảm ơn Chúa!  Máy thuyền chạy lại được trước khi cơn giông băo buổi tối ập về. 

Qua đến ngày thứ sáu th́ nhiên liệu, thức ăn cùng nước uống đă hết.  Vào lúc nầy chúng tôi cũng không biết bao lâu nữa mới đến Manila.  Trong nổi sợ hăi trước một viễn ảnh chết chóc, vợ tôi ôm đứa con gái nhỏ đang mệt lă vào ḷng, vừa khóc vừa kêu cầu Chúa:  "Chúa ơi!  Ngài đă bảo vệ chúng con suốt năm ngày qua, xin Chúa đừng để chúng con phải chịu chết trong lúc nầy.  Vào lúc 3:30 chiều, chiếc tàu buôn tên Donna Maria trên đường từ Mă Lai đi Nhật Bản đă dừng lại tiếp tế cho chúng tôi thực phẩm, nước uống, và nhiên liệu.  Vị thuyền trưởng cũng cho chúng tôi biết khoảng cách và phương hướng đúng để đi đến Manila.  Đó là một buổi chiều tuyệt vời, v́ sau mấy ngày đói khát, chúng tôi có một bửa ăn thật thịnh soạn với bánh ḿ và thịt đóng hộp.  Riêng con gái của chúng tôi th́ say sưa thưởng thức hương vị của trái táo (apple) đầu tiên trong đời.  Cảm ơn Chúa!  Ngài đă đáp lại sự van cầu của vợ tôi.

Khoảng 3 giờ sáng của ngày thứ bảy th́ một chiếc ḷ xo nửa của máy thuyền bị găy.  Chúng tôi phải chờ đến sáng mới có thể sửa máy được.  Nhờ ơn Chúa thương xót nên lúc nầy biển thật êm nên tôi và người bạn thay nhau chèo thuyền.  Trời vừa sáng th́ bạn tôi quấn chiếc ḷ xo của nắp đèn pin cuối cùng ráp vào máy và cho thuyền chạy lại.  Thật là kỳ diệu đến khó tin bởi lần nầy máy thuyền đang chạy với hai chiếc ḷ xo của đèn pin.

Vượt qua nhiều đợt giông tố hăi hùng trong đêm, sáng ngày thứ tám (21 tháng 6, 1978)
chúng tôi đă đến bờ biển của Philippines.  Vào xế trưa, chúng tôi vào vịnh Manila và đổ bộ lên Marivelles, một thành phố nhỏ của tỉnh Bataan sau 8 ngày và 7 đêm đương đầu với băo tố, đói khát, và cô đơn trên biển đông.  Chúng tôi quả thật đă đi qua "trũng bóng chết" nhưng c̣n sống sót v́ nhờ vào phép lạ của Đức Chúa Trời.

Sau khi được chuyển đến trại tỵ nạn ở Manila, chúng tôi được cơ hội gặp gỡ các vị giáo sĩ trước kia hầu việc Chúa ở Việt Nam và được hướng dẫn đến Hội Thánh Báp Tít Quốc Tế (International Baptist Church) ở Manila.  Giữ lời hứa nguyện với Chúa, vợ chồng tôi đă công khai tuyên xưng đức tin của ḿnh trong Chúa Cứu Thế Giê-su trước Hội Thánh và chịu phép báp-têm tại đây. 

Suốt mấy mươi năm bước đi với Chúa trong tin cậy và vâng lời, chúng tôi đă nếm trăi được sự hiện hữu của Ngài qua những thăng trầm liên tục trong cuộc đời.  Chúa luôn luôn nâng đở để chúng tôi đứng vững trước bao nghịch cảnh và ǵn giữ chúng tôi trong bao hoạn nạn:  từ những năm tháng khốn khổ, tủi hận sau 1975 tại Việt Nam, đến chuyến vượt biển t́m tự do đầy gian nan nguy hiểm bằng chiếc thuyền con mong manh trên biển đông, cũng như những năm tháng đầu chật vật hội nhập vào nếp sống mới trên quê người với nhiều khó khăn, trở ngại.  Đức tin trong Chúa Giê-su với nổi vui mừng nhận được sự tha tội và cứu rỗi của Ngài đă cho chúng tôi sự vui thỏa và b́nh an trong đời tạm nầy cùng với niềm hy vọng cho đời sống vĩnh cửu nơi Thiên Đàng mai sau.  Dù trong hoàn cảnh nào (thuận hay nghịch), chúng tôi đều cảm tạ Đức Chúa Trời v́ chúng tôi tin tưởng vào sự an bài của Ngài cho đời sống của ḿnh.    

 

 

Chúa là Đấng Chữa Bệnh (nghe)
Bác Sĩ Nguyễn Bá Diệp

Hôm nay tôi lớn tiếng cảm ơn Chúa về phép lạ Ngài đă làm trên chứng bệnh tim đột biến của tôi (heart attack).  Đây không phải là lần thứ nhứt Chúa làm điều nầy.  Ngài đă cứu tôi nhiều lần về chứng bệnh tim khi tôi đi Âu Châu và chứng tăng áp huyết khá cao độ xảy ra trong năm vừa qua, suưt bị biến chứng tai biến mạch máu năo.

 

Mấy lúc gần đây, thỉnh thoảng tôi bị 1 cơn đau nhẹ ở tim.  Tôi đă có kinh nghiệm về các cơn đau nầy; nhưng các lần trước chỉ là 1 cơn đau qua đi thật nhanh chóng.  Lần nầy, cơn đau đột biến rất khó chịu, xảy ra khoảng 9:30 sáng, và các điều kỳ diệu đă lần lượt tiếp diễn như sau:

1. Kỳ diệu thứ nhất - Các nhân viên BV làm việc rất nhanh chóng:  Như quư vị cũng biết, mỗi khi nhập viện - trừ phi bệnh nhân được chuyên chở đến bằng xe cứu thương - bệnh  nhân thường phải ngồi chở đợi khá lâu để làm thủ tục giấy tờ.  Khi nhà tôi cho họ biết là tôi đang bị heart attack th́ lập tức tôi được khám bệnh ngay, không phải chỉ 1 vị bác sĩ, mà là 3 người và nhiều y tá túc trực chung quanh.   

2.  Kỳ diệu thứ hai - Thời gian kéo dài:   Thông thường đă gọi là tim đột biến th́ bệnh nhân không cầm cự được lâu. Tại bệnh viện địa phương nơi tôi cư ngụ (Orange Park Medical Center) không có bác sĩ và dụng cụ chuyên khoa về ngành nầy nên họ phải chuyển tôi đến BV Memorial ở Jacksonville bằng phi cơ trực thăng.  Thời gian mất khoảng từ 6 đến 7 phút di chuyển và cầm cự.

3.  Kỳ diệu thứ ba - Phương tiện kịp lúc:  Có trực thăng sẳn sàng và đến ngay lập tức, thay v́ tôi được chuyển đi bằng xe cứu cấp th́ mất khoảng 45 phút, e là tôi đă thiệt mạng.  V́ mẹ của tôi cũng đă bị cơn đau tim đột biến nầy và bà đă chết trong ṿng 1 tiếng đồng hồ.

4.  Kỳ diệu thứ tư - Cấp cứu kịp thời:    Trên phi cơ trực thăng, tôi không thể nằm yên được v́ rất khó thở, bởi quả tim đă nghẹt và dường như sắp hết hoạt động.  Lúc đó, tôi kêu cầu cùng Chúa:  Hoặc Ngài ǵn giữ tôi, hoặc nếu Ngài kêu gọi tôi về với Ngài th́ tôi cũng sẳn sàng. Tại BV, bác sĩ cho biết có 1 buồng tim đă bị nghẽn 100%, c̣n 3 buồng tim kia thi cũng đă bị nghẹt, nên họ phải làm thủ tục thông tim.

Ngày hôm nay tôi c̣n được đứng đây, một lần nữa, lớn tiếng cảm ơn Chúa và ca ngợi Ngài là Đấng chữa bệnh cho những ai t́m kiếm và cầu khẩn danh Ngài.  Amen. 

 

 


Tuần lễ Tuần Hành Rương Giô-ách và Quỷ Tự Trị  (Nov 13, 2005)

Malachi 3:10  -  Các ngươi hăy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nổi không chỗ chứa chăng! 

Ngày Tuần Hành Rương Giô-ách và gây Quỷ Tự Trị được tổ chức tại Hội Thánh Tin Lành Jacksonville theo thông lệ hằng năm, trung tuần tháng 11.  Mời quư vị nghe những lời làm chứng về các ơn phước đă nhận từ nơi Chúa qua sự dâng hiến và những lời chia xẽ của Mục Sư Nguyễn Quang và Mục Sư Nguyễn Thành Nguyên trong dịp nầy.
 

 

Nói về những ơn phước do Chúa ban cho, th́ Hải không biết phải bắt đầu từ đâu v́ Hải đă nhận được rất nhiều, nhiều vô số kể.  Hôm nay Hải rất lấy làm vinh dự được làm chứng về sự dâng hiến một phần mười vào nhà kho của Chúa. 
 

Trong Malachi 3:10, chép rằng::  "...các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán..." 

Theo Hải biết, th́ trong Kinh Thánh không có chổ nào mà Chúa bảo ḿnh "hăy thử" Chúa; nhưng ở phân đoạn Malachi nầy th́ Chúa bảo "hăy thử ta!"  V́ Chúa biết rằng chúng ta coi "đồng tiền đi liền với khúc ruột", làm ăn cực khổ nên không muốn bỏ tiền ra dâng hiến.  Nhưng cảm ơn Chúa, Hải đă làm điều nầy (dâng hiến một phần mười) và đă nhận được rất nhiều ơn phước.

Trước kia, Hải kư check dâng hiến mỗi tuần một lần.  Nhưng nhằm tuần lễ chót trong tháng th́ vợ Hải lo lắng về tiền bạc trong chương mục, không biết có c̣n đủ để chi phí nhiều thứ khác nữa chăng.  Thế là vợ chồng Hải quyết định mỗi đầu tháng kư một cái check, dâng trọn 1 lần cho nguyên một tháng đó.  Mấy lúc sau nầy, Hải nhận được rất nhiều ơn phước, nhất là trên lănh vực công việc làm.  Công việc Hải làm rất mệt nhọc, khuân vác rất nặng nề, làm việc có khi hơn 60 giờ mỗi tuần, nhưng tiền lương căn bản và tiền lương phụ trội rất hậu hỉ.  Vậy th́, sức lực đó do đâu mà có?  Cảm ơn Chúa, Ngài đă ban cho Hải đầy đủ sức khỏe v́ Hải biết nhờ cậy nơi Chúa, theo tinh thần của Ê-sai 40:31: Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va th́ chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không ṃn mơi.
 
 

Hai năm về trước, tôi đă đứng nơi nầy để làm chứng về sự dâng hiến một phần mười th́ sẽ được phước từ các cửa sổ trên trời .. Sau đó, tôi bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế, suy sụp tài chánh, tiền bạc túng quẩn.  Như vậy, theo Malachi 3:10, Chúa có thành tín trong lời hứa của Ngài hay không? 

 


Tôi vẫn tiếp tục trung tín trong sự dâng hiến, tiếp tục tham dự các lớp học Kinh Thánh đều đặn; dần dần, tôi hiểu được ư nghĩa về Của DângCách Dâng, "thấy" được những sai lầm và vấp phạm của ḿnh trong "cách dâng" suốt thời gian qua.

1.  Của Dâng:  Một phần mười - số tiền (hay của lễ) phải được biệt riêng cho Chúa.

2.  Cách Dâng: 

      a.  Sai lầm thứ nhất - Vô ơn:  Sức khỏe và công việc làm của ḿnh là do Chúa ban cho.  Tôi đă dâng hiến một phần mười để chứng tỏ tinh thần vâng phục, coi đó như là cái nghĩa vụ của mỗi tín đồ để đáp ứng nhu cầu chi phí trong Hội Thánh; nhưng hoàn toàn thiếu ḷng biết ơn Chúa.  Chúa không cần và không nhận của lễ với tấm ḷng vô ơn như vậy! 

      b.  Sai lầm thứ hai - Bất ḥa với anh em:  Kinh thánh chép rằng:  "Nếu khi nào ngươi đem của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều ǵ nghịch cùng ḿnh, th́ hăy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hoà với anh em trước đă, rồi hăy đến dâng của lễ."  Tôi đă không làm đúng như lời Chúa dạy.  Suốt năm qua, tôi vẫn c̣n bất hoà với anh em trong gia đ́nh, giận hờn anh em trong hội thánh, v.v...  Chúa không cần và không nhận của lễ không thánh sạch như vậy!

      c.  Sai lầm thứ ba - Của dư thừa:  Thỉnh thoảng tôi không chuẩn bị tiền dâng sẳn sàng cho đủ một phần mười, thế là tuần sau tôi dâng bù.  Đồng thời, sau khi lănh lương, việc trước tiên là tôi lo thanh toán các món nợ credits, rồi trang trải mọi chi phí trong nhà, c̣n dư lại bao nhiêu th́ tôi mới dâng vào quỷ mortgage Hôi Thánh.  Với Chúa, tiền dâng hiến dư thừa như vậy gọi là những con chiên mù, què và tàn tật.  Chúa không cần và không nhận thứ của lễ không biệt riêng ra như vậy!

3.  Chúa có thành tín về lời hứa của Ngài hay không?  Với "cách dâng" sai lầm như trên, suốt một năm qua, tiền dâng hiến của tôi không nằm trong nhà kho của Chúa, th́ làm sao các cửa sổ trên trời đổ phước xuống cho tôi?  Sau đó, tôi đă ăn năn với Chúa và thay đổi cách dâng.  Đầu tháng, tôi đă chuẩn bị biệt riêng tiền dâng hiến, dâng với tấm ḷng ăn năn, biết ơn, trân trọng, và ḥa thuận với anh em.  Trước kia, tôi làm 2 jobs nhưng vẫn túng thiếu.  Bây giờ tôi thất nghiệp nhưng các con cái dâu rễ, vâng theo ư Chúa, tiếp trợ tôi đầy đủ và có dư.  Nhất là những lời cầu nguyện về các nan đề của riêng tôi hoặc của gia đ́nh đều được nhậm.

Khi ḿnh trung tín trong sự dâng hiến, trung tín trong sự thờ phượng, hay sự hầu việc Chúa mà không nhận được ơn phước nào từ nơi Ngài th́ phải xét lại chính ḿnh.  Ḿnh có đặt Chúa theo thứ tự ưu tiên hàng đầu trong mọi sự hay không?  Trong mọi sự, ḿnh có làm trong thánh ư của Chúa hay theo ư riêng của ḿnh?  Chúa luôn luôn thành tín trong mọi lời hứa của Ngài; không một lời hứa nào mà không ứng nghiệm nếu ḿnh cẩn thận làm theo đúng y như lời dạy trong Kinh Thánh.

         

Mục sư Nguyễn Thành Nguyên chia xẽ về sự dâng hiến
 

 

 


Cụ Bà
Nguyễn N.Cẩm
Jacksonville, FL.


Lời Cầu Nguyện Được Nhậm (nghe)

Do bởi ḷng nhân từ của Chúa, lời cầu thay  của bà về cơn bệnh của người cháu ngoại đă được nhậm.
         Amen!

 




Bà Trần Khanh
Jacksonville, Fl.


Đấng Sống (nghe)

Một phép lạ vừa xảy ra tại nhà tôi, chứng tỏ sự hiện hữu và hằng hữu của 1 Đấng Sống - Đức Chúa Jesus Christ - Đấng đáng cho tôi tôn thờ.

 

  
  • Cô Tường Vi, Germany:   Được sự cảm động sau khi xem DVD The Passion of Jesus Christ, cô đă tiếp nhận tin Chúa tại một Hội Thánh Tin Lành ở New York.  Người em ruột của cô bị một chứng bệnh về năo.  Qua đức tin "Chúa là Đấng chữa bệnh", cô đă dốc đổ cầu nguyện cho em của ḿnh cho đến khi người em được lành bệnh.

 

Sự Nhân Từ Ngài C̣n Đến Đời Đời
 Ghi Nhận:  Thiên Hà

Tôi tên Nguyễn Thiên Ân, sinh năm 1969, một đứa con Mỹ lai da đen vô thừa nhận, không biết cha mẹ ruột là ai.  Tạ ơn Chúa đă thương xót, cho tôi được các d́ phước tại Đà Lạt nuôi dưỡng trong một cô nhi viện.  Sau năm 1975, cô nhi viện bị giải tán và chế độ mới đă đưa tôi vào trại sống chung với những người tàn tật và tội phạm ở Đà Nẵng. 

Sau đó, Chúa cho một gia đ́nh con cái Chúa trong vùng đă xin nuôi tôi.  Ông bà nầy cũng đă có nuôi một đứa con lai khác và chuẩn bị đi Mỹ; do đó, họ đă tặng tôi lại cho ông bà Nguyễn Phước Cường, con cái Chúa tại Cam Ranh, Khánh Ḥa.  Từ đó, tôi được ông bà Cường dưỡng dục trong t́nh yêu của Chúa.  Vào năm 18 tuổi, tôi đă tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của ḿnh.

Đến năm 1990, tôi cùng với gia đ́nh cha mẹ nuôi nạp đơn đi Mỹ.  Sau đó chừng 1 năm, họ gọi phỏng vấn và chỉ cho một ḿnh tôi được đi, cả gia đ́nh phải rớt lại v́ bị nghi là ghép hộ.  Nhưng tôi cương quyết không đi nếu toàn bộ hay một phần gia đ́nh người nuôi tôi không được đi.  Măi đến năm 1995, phía Mỹ cho biết đây là cơ hội cuối cùng, nếu tôi không đi th́ phải ở lại.  V́ thế, tôi đành gạt nước mắt ra đi một ḿnh.

Tạ ơn Chúa cho tôi đến nước Mỹ, được định cư tại Thành Phố Jacksonville, Florida.  Tôi đă nhận được sự tiếp đón và chăm sóc của Hội Thánh Chúa tại đây.  Nhưng sau đó một thời gian ngắn, tôi càng ít đi nhóm lại thờ phượng Chúa.  Rồi chừng nửa năm sau, v́ công việc làm ăn và ḷng yêu mến Chúa nguội lần, tôi không c̣n đi nhà thờ nữa.  Vào tháng 10 năm 1998, tôi lập gia đ́nh với người ngoại đạo.  Đến năm 2004, Chúa cho tôi một đứa con gái xinh xắn 4 tuổi và vợ tôi cũng đang mang thai 3 tháng.  Nhưng tôi vẫn không biết ơn Chúa, không đối xử tốt với vợ con và vẫn thường t́m những thú vui tội lỗi như những thanh niên chưa biết Chúa.

Rồi th́ một biến cố khủng khiếp xảy đến cho cuộc đời tôi.  Thứ Bảy, ngày 10 tháng 8 năm 2004, khoảng 11 giờ đêm, tôi đi một ḿnh t́m thú vui ngoài băi biển Jacksonville.  Bất chợt có 4 thanh niên Mỹ đến gần tôi xin thuốc lá.  Tôi trả lời là tôi không có.  Họ xin tiền, tôi cũng trả lời không.  Thật sự tôi không có tiền cho họ v́ tôi luôn để bóp tiền trong xe chứ không để trong người.  Nghe trả lời là không có tiền, họ bèn xông tới dùng cây đánh vào đầu, vào ḿnh tôi túi bụi.  Tôi ngất đi.  Khoảng hơn 3 tiếng đồng hồ sau mới hồi tỉnh, bèn lết đến xe.  Lúc đó, mặc dù chân tay bên phải của tôi không c̣n hoạt động b́nh thường nữa, nhưng Chúa vẫn cho tôi có thể lái xe khoảng nửa tiếng mới về đến nhà.  Quả là một phép lạ!  Sau khi mở cửa vào nhà, tôi không c̣n làm chủ được tay chân nữa.  Tôi kêu nhức đầu và nôn mữa.  Vợ tôi liền gọi cấp cứu.  Trên đường đến bệnh viện, tôi không c̣n biết ǵ nữa.

Tại Bệnh Viện Memorial, các bác sĩ cho vợ tôi biết là tôi bị nứt sọ.  Họ đă giải phẩu hai lần.  Tôi hôn mê và phải thở bằng b́nh dưỡng khí.  Trong khoảng mấy ngày sau, bệnh viện cho biết tôi không c̣n hy vọng sống sót.  Họ khuyên vợ tôi nên để cho họ rút ống dưỡng khí ra để cho tôi nhẹ nhàng ra đi, nhưng vợ tôi khẩn khoản rằng c̣n nước th́ c̣n tát.  Trong lúc hôn mê, nhiều người đến thăm, nhưng tôi chỉ c̣n nhớ lờ mờ.  Sau đó vợ tôi thuật lại, cho biết có Mục Sư đến thăm, khuyên tôi dù không nói được nên chớp mắt tỏ ḷng ăn năn.  Tôi khóc và chớp mắt ưng thuận.  Mục Sư đặt tay cầu nguyện cho tôi, nài xin Chúa tha thứ tội lỗi của tôi, chữa lành tôi, và ban cho tôi một cơ hội thứ hai.  Lúc đó, tôi cũng đă chớp mắt đồng ư hứa nguyện với Chúa rằng, khi được mạnh lành, tôi sẽ là chứng nhân cho Chúa, nhất là vợ con tôi và gia đ́nh bên vợ tôi.

Khoảng hơn một tuần sau, bệnh viện cho biết, họ không c̣n ngân khoản để chữa cho tôi nữa, v́ đă tốn hơn nửa triệu đô la.  V́ vậy, họ sẽ chuyển tôi đến một viện dưỡng lăo miễn phí ở Chicago.  Tại đó, dù điều kiện y tế hết sức eo hẹp và bẩn chật, nhưng Chúa cho tôi lần lần b́nh phục.  Tôi bắt đầu mở mắt, nói chuyện bập bẹ, và có thể cử động một ít.  Sau chừng hai tháng, họ cho tôi xuất viện về nhà lại Jacksonville.  Tại đây, các Mục Sư và con cái Chúa trong Hội Thánh đă thường xuyên thăm viếng và cầu nguyện cho tôi.  Tôi đă ngồi dậy được, nói chuyện được, và sau đó có thể di chuyển bằng nạng trong nhà.  Thật tạ ơn Chúa.  Rơ ràng Chúa đă cứu tôi như từ cơi chết sống lại. Một điều mà trước đây không ai dám nghĩ đến.  Ngoài ra, Chúa c̣n cho tôi được chính phủ đài thọ mọi chi phí bệnh viện, được hưỡng tiền SSI, Medicaid.  Cơ quan cảnh sát cũng bồi hoàn cho tôi mỗi tháng $1,000 trong suốt một năm v́ họ đă không giữ được an toàn cho tôi trong biến cố vừa qua.

Nhưng điều tôi tạ ơn Chúa hơn hết là điều Chúa đă làm cho vợ tôi.  Sau khi chứng kiến phép lạ Chúa đă cứu sống tôi, vợ tôi đă mở ḷng tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của ḿnh.  Vào Chúa Nhật Phục Sinh 2005, chúng tôi đă đến đền thờ mừng Chúa sống lại.  Chúa Nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2005, tôi cũng đă lái xe đưa vợ tôi, Bùi Thanh Loan, và 2 con đến đền thờ để nói ít lời tạ ơn Chúa đă thương xót tôi (nghe), cho tôi được sống lại; đồng thời cảm ơn Hội Thánh Jacksonville đă tha thiết cầu nguyện cho tôi.  Nhân dịp nầy, tôi cũng dâng hai đứa con tôi là Jennifer và James lên Ba Ngôi Đức Chúa Trời để xác nhận ḷng biết ơn và tin cậy nơi Chúa của tôi.

Giờ đây, tôi có thể đồng thanh với vua Đa-vít, tác giả Thi Thiên 103, mà ngợi khen Chúa rằng:  Quả thật, "sự nhân từ Ngài c̣n đến đời đời".  Nếu hôm ấy tôi chết, tôi sẽ đi vào địa ngục đời đời, c̣n vợ và con tôi sẽ không hề biết Chúa.  Nhưng nay, chẳng những Chúa đă tha thứ hết tội lỗi của tôi, mà c̣n cứu cả gia đ́nh tôi nữa.  Thật ân điển Chúa quá lớn lao, diệu kỳ vượt quá sự suy tưởng của tôi.  Xin Chúa cho những ngày c̣n lại của cuộc đời tôi, tôi sẽ là một "nhân chứng sống" cho t́nh yêu và sự thương xót cả thể của Ngài.  Amen.

 

Hai Mục Sư của Hội Thánh và hai em Jennifer và James trong buổi lễ dâng con. 

Xin bấm vào phần nối kết để nghe lời phát biểu của Mục Sư Nguyễn Thành Nguyên (nghe).

 

 
 



Bà Nguyễn Thành Nguyên
GV Trường Chúa Nhật

 

 

V́ chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói "Amen", làm sáng danh Đức Chúa Trời.    
 

                                    (nghe)

 

 
 


Cảm Ơn (nghe)

Cảm ơn sự tha thứ  của Chúa.  Mọi người đều phạm tội nhưng tôi đă   được tha thứ và được trở nên con cái Đức Chúa Trời..

 

 



Bà  Trần Kim Khanh
Orange Park, FL.

 

Yêu Thương và Tha Thứ  (Nghe)
Chị Trần Thanh Phú, PA
      
 
Con yêu Cha v́ Cha đă cứu con và đă yêu con trước...

 
 


 

 

  •   Rev. Joel and Geonifer Vergara
                      
    (by Sarah Chau)

    On February 11, 2006, second annual Valentine's program, Pastor Joel and Geonifer Vergara gave a testimony for the youth at Vietnamese Christian Church. 

    The entire Valentine's message was centered around the momentum of letting "God writes your love story."  Both the young and young atheart audience were captured and admonished by their messages.  They were humbled in revealing very personal detail accounts of each of their own struggle and journey to find the Lord and each other. 

    Through years of failed relationships and long distance relationships, Pastor Joel and Geonifer were finally united as a young couple, worshipping, serving, and giving glory to God through their lives.  Today, they are serving as youth pastors for the Christian Philippine-American Church in Westside Jacksonville, Florida.  They have served on mission teams to the Philippines, the Middle East and Alaska.  Listen in on their message and be encouraged!

    Geonifer Vergara (audio), and
    Joel Vergara (audio)
     

  •   Ms. Anne Langley
                           
    (by Sarah Chau)

    In October 2005, our English Sunday Service welcomed , Ms. Anne Langley (audio) another touching testimony of how she came to know the Lord.  Anne came from a very wealthy family with servants, housekeepers, and maids.  She was adopted at a very young age and lived a comfortable affluent life.  Anne had the opportunity to travel around the world but still could not find true happiness.  She likes most teens growing up had much curiosity about the world and herself.  Anne tried everything from drugs, witchcraft to conceiving a baby out of wedlock at the age of 19.  Today, after accepting Christ, Anne's lifestyle is very much different since she had found true joy and peace in her life.  Anne is going through her own battles as she struggles with her husband's illness, financial difficulties and the death of her mother whom she has cared for over the years.  Anne, more than ever, now is trusting God through these challenging times.  She felt it a calling to be accepted into the nursing program as she has cared for so many close to her.  We are truly encouraged and blessed by her testimony of faith.


     

  •   Mr. David Klepner
                       
    (by Sarah Chau)

    In September 2005, guest speaker David Klepner (audio) joined our English Sunday Service (ESS) to give forth his life testimony.  From his message, you will witness David's changed life and how he came to know our Lord and Savior.  Growing up during the hippie era, David experimented and experienced it all.  More than once, he was heavily into the things of this word ... drugs, alcohols, illegal dealings as the money kept coming, lots of it.  He wanted to travel the world, to live for himself and enjoy his life without the acknowledgement of the Lord.  David unfortunately but inevitably became physically deteriorated and mentally drained as time passed.  More tragedy followed with the suicide of this first wife.  One fine day while at the bottom of his pursuits, a church invitation from a kind lady changed his life.  She is David Klepner's wife.  Today, the Klepners have four children and are serving the Lord with their International Ministry at First Baptist Church in Jacksonville, Florida.   


     

  •   God's Healing and Restoration
      Monica and Kenneth Gloyd (audio)

 

 

 

 

 

 

Back to Top

Thursday, November 01, 2007